Tham Khảo: Liệu Pháp Ánh Sáng Trong Điều Trị Trầm Cảm Theo Mùa Kỹ Thuật Ứng Dụng. Các kỹ thuật được sử dụng trong liệu pháp gia đình thường phụ thuộc vào các yếu tố như định hướng lý thuyết của nhà trị liệu và nhu cầu cụ thể của gia đình. Một số kỹ thuật TRỊ LIỆU ÁNH SÁNG ĐỎ LÀ GÌ. Liệu pháp ánh sáng đỏ (RLTĐ) là một phương pháp điều trị có thể giúp da, mô cơ và các bộ phận khác của cơ thể bạn lành lại. Chuẩn bị cho liệu pháp ánh sáng LED. Mỗi buổi trị liệu bằng ánh sáng LED tại văn phòng mất khoảng 20 phút mỗi lần. Bạn cần đeo kính bảo vệ để ánh sáng không gây hại cho mắt. Cho dù bạn đang sử dụng đèn LED ở nhà hay đến gặp nhà cung cấp dịch vụ để điều trị Liệu pháp ánh sáng không bảo đảm có hiệu quả với tất cả mọi đối tượng nhưng có thể thực hiện các bước để tận dụng tối đa liệu pháp như sau: Chọn đúng loại hộp đèn. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi quyết định mua thiết bị trị liệu bằng ánh sáng nhằm chọn Kiên nhẫn. Duy trì liệu pháp như một Thứ nhất, Luận án góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận pháp luật về tổ chức và hoạt động của TCHNCC và việc cần thiết phải phân định về hoạt động công chứng là hoạt động hành nghề của CCV với hoạt động hỗ trợ cho hoạt động hành nghề của 8dQj. Liệu pháp laser ánh sáng sinh học là gì?Liệu pháp laser ánh sáng sinh học là sử dụng tia laser mềm sorf lasers để tác động lên những vùng khác nhau của cơ thể nhằm mục đích điều trị bệnh. Khác với tia laser được sử dụng trong giải phẫu có khả năng phá hủy mô và tế bào, tia laser mềm cung cấp cho cơ thể năng lượng để kích hoạt nhiều quá trình tái y học sử dụng tia xanh dương, xanh lá, tím, đỏ và tia hồng ngoại. Mỗi màu laser có nhiều hiệu quả khác nhau, kích thích những nhóm tế bào khác nhau, chẳng hạn như nhân tố tăng trưởng hoặc các tế bào trong hệ miễn dịch. Những công dụng và hiệu quả này đã được chứng minh trong rất nhiều nghiên cứu lâm dụng của từng tia ánh sángÁnh sáng đỏTăng sản sinh ATPCải thiện hoạt động miễn dịch Kích hoạt đại thực bào, tăng hoạt động của tế bào lành vết thươngTăng hoạt động của tế bào và hệ thống vi tuần hoànTăng lượng oxy trong máuKích thích sự trao đổi chấtLàm dịu thần kinh và nhịp timGiãn cơGiảm chất béo và giảm hệ tư vấn điều trị laser 0937 53 45 45 Ánh sáng xanh lá câyCải thiện chức năng và độ đàn hồi tế bào của hồng cầuTăng sự phát triển của nguyên bào sợi và cải thiện chuyển hóa glucoseCải thiện độ nhớt của máuCải thiện lưu thông và cung cấp oxyKích hoạt các quy trình sửa chữa, phục hồiÁnh sáng xanh dươngChống lại các quá trình viêm và kháng khuẩnGiảm cholesterol, chất béo trung tính và bilirubinCải thiện hoạt động miễn dịchTăng cường hệ thống vi tuần hoànKích hoạt telomerase giúp chống lão hóaLàm lành vết thươngCải thiện việc sử dụng oxy trong môÁnh sáng trắngTăng cường hệ thống miễn dịchCải thiện sự hấp thụ oxy trong môNgăn chặn sự nhân lên của vi rút, vi khuẩn và nấmNgăn chặn sự kết tụ tiểu cầu trong máuCải thiện lưu thông máu bằng cách làm giãn nở các mạch máuCải thiện khả năng giải độc và loại bỏ độc tố của cơ thểÁnh sáng tímỨc chế và tiêu diệt tế bào ung thưKháng khuẩnTăng cường hệ miễn dịchKích thích quá trình trao đổi chấtHỗ trợ điều trị chứng trầm cảmTăng hiệu quả tác dụng của HypericinCác liệu pháp laser ánh sáng sinh học được chúng tôi áp dụng Liệu pháp laser cục bộ không xâm lấnKim laser Lasemeedle AcupunctureLiệu pháp điều trị laser não bộLiệu pháp điều trị da liễuLiệu pháp laser kẽLiệu pháp laser tĩnh mạchLiệu pháp quang động điều trị khối u u ngoại, u nội, kháng khuẩnLiệu pháp quang động chống siêu ứng dụng điều trị của liệu pháp laser ánh sáng sinh học1. Liệu pháp laser cục bộ và kim laser Liệu pháp laser ngoài da áp dụng mười hai kim laser lên cơ thể cùng một lúc. Những kim laser này sẽ không xâm lấn qua da, mà chỉ được áp dụng ngoài da. Những đầu kim laser có tỉ trọng năng lượng cao sẽ thâm nhập trực tiếp vào trong cơ thể, kích thích những vùng bị đau và đẩy mạnh những cơ chế phục pháp laser y học áp dụng laser màu xanh dương, xanh lá, vàng, đỏ và hồng ngoại. Những mô khác nhau sẽ hấp thụ những bước sóng khác nhau, cho nên mỗi màu laser sẽ có mức độ thâm nhập khác nhau. Điều này thậm chí còn tạo nên sự chiếu xạ của các mô nằm sâu bên laser Laserneedles™ còn được sử dụng trong liệu pháp châm cứu truyền thống. Phương pháp này hoàn toàn không gây đau và có khả năng kích thích 12 điểm châm cứu cùng một lúc. Hơn nữa, bệnh nhân sẽ nhận được hiệu ứng hồi phục từ những tia sáng năng lượng pháp không gây đau và không xâm lấn này đạt được kết quả điều trị xuất sắc khi kiểm chứng bằng việc kích thích các mô pháp laser cục bộ và kim laser có tác dụng giảm đauNhững ứng dụng của liệu pháp laser cục bộ và kim laser Liệu pháp giảm đauPhục hồi chức năngChâm cứu Tất cả những ứng dụng của châm cứu truyền thống như hội chứng cột sống, viêm khớp, thấp khớp, trượt đĩa đệm, viêm gân, đau dây thần kinh sinh ba, trầm cảm, đa xơ cứng, bệnh đường tiêu hóa, dị ứng, hen suyễn, cao huyết áp, tiểu Liệu pháp điều trị laser trên não bộ Liệu pháp điều trị laser trên não bộ kích thích nhiều quá trình thần kinh khác nhau. Phương pháp điều trị tiên tiến này đã trở thành lựa chọn điều chị chính trong việc điều trị nhồi máu cơ tim, bệnh Parkinson, bệnh Alzheimer, đa xơ cứng động mạch não, đau nửa đầu, chóng mặt, ù tai và các bệnh thoái hóa não pháp laser trên não bộNhững ứng dụng của liệu pháp laser trên não bộ Giảm vùng nhồi máu và cải thiện tuần hoànKích hoạt tăng trưởng thần kinhCải thiện những kĩ năng thần kinh và thiếu hụt nhận thứcHiệu ứng tích cực lên những quá trình viêm trong nãoHiệu quả phục hồi những chức năng thần Liệu pháp điều trị da liễu bằng laser Những liệu pháp điều trị da liễu bằng laser đã được củng cố rất chặt chẽ để điều trị nhiều bệnh như bệnh chàm, viêm da thần kinh, vảy nến, vết thương mãn tính, mụn trứng cá, mụn rộp, á sừng, mụn cóc, viêm nướu và các bệnh da liễu khác. Liệu pháp còn rất hiệu quả trong việc điều trị bệnh ung thư da giai đoạn laser xanh rất hiệu quả khi áp dụng vào những liệu pháp này vì tính kháng khuẩn và kháng viêm của quả của liệu pháp còn có thể được cải thiện bằng cách sử dụng kem cảm quang, như 5-ALA hoặc kem dưỡng trà xanh. Liệu pháp laser điều trị da liễu4. Liệu pháp laser kẽ Liệu pháp laser kẽ là một kỹ thuật mới, bằng cách chiếu tia laser qua kẽ trên da để đưa ánh sáng đến những lớp mô nằm sâu bên dưới. Bằng cách sử dụng ống thông vô trùng, tia laser có thể thâm nhập 12cm sâu trong cơ so sánh với những liệu pháp laser ngoài da, hiệu quả của liệu pháp này được cải thiện rất tia laser màu xanh lá, vàng và xanh dương, thông thường sẽ bị hấp thụ ngay trên bề mặt da, nay có thể được ứng dụng lên bề mặt của những mô sâu, kích thích hiệu ứng chống viêm cho những mô pháp laser kẽ tác động đến những mô nằm sâu dưới daLiệu pháp laser kẽ giúp điều trị Đau lưng mãn tínhThoát vị đĩa đệmSẹo gây đau sau giải phẫu đĩa đệmHẹp ống sốngTổn thương thần kinhViêm gân, bong Liệu pháp điều trị nội khớp bằng laser Liệu pháp điều trị nội khớp bằng laser được sử dụng chủ yếu trong việc điều trị những khớp bị tổn thương, bằng cách áp dụng công nghệ ống thông mới nhất. Nó cho phép sự chiếu xạ trực tiếp lên những mô bị rối loạn chức năng dây thần kinh, sụn, xương.Đã có rất nhiều nghiên cứu lâm sàng chứng minh khả năng phục hồi của những mô sụn bằng liệu pháp laser công suất tia laser đỏ được sử dụng chủ yếu cho việc điều trị đau khớp mãn tính, những tia laser xanh lại vô cùng hiệu quả khi điều trị những bệnh viêm cấp nội khớp giúp giảm đau hiệu quảLiệu pháp laser nội khớp được ứng dụng để điều trị Viêm khớp hôngViêm khớp gốiViêm mắt cá chânHội chứng đau vai mãn Liệu pháp laser tĩnh mạchLiệu pháp laser tĩnh mạch kích hoạt ứng dụng của ánh sáng laser trực tiếp vào tĩnh mạch bằng sử dụng công nghệ ống thông mới nhất. Những tia laser sẽ kích thích tuần hoàn của tế bào máu và tế bào thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và dữ liệu lâm sàng cho thấy việc chiếu xạ lên tế bào máu có thể kích hoạt nhiều hiệu ứng tích nghệ này đã có mặt hơn 30 năm. Nó chính thức được phê duyệt tại Đức vào năm 2005, các trường đại học đã xác nhận tiềm năng điều trị của phương pháp này và biến nó thành tâm điểm trong chương trình nghiên cứu của tác dụng khác nhau của mỗi loại ánh sáng sinh họcÁnh sáng laser được đưa vào tĩnh mạch của người bệnhLiệu pháp laser tĩnh mạch được ứng dụng trong điều trị Bệnh nội khoa đái tháo đường, bệnh gan và thận mãn tínhRối loạn chuyển hóa Bệnh tim Đau mãn tính Đau cơ xơ hóa và thấp khớp Dị ứng Thoái hóa điểm vàngÙ tai Đa xơ cứng Trầm cảm và kiệt sức Bệnh Lyme Tăng hiệu suất trong thể thao. 7. Liệu pháp quang động PDTLiệu pháp quang động là một trong những liệu pháp hiệu quả và có tiềm năng nhất trong việc điều trị nhiều bệnh liên quan đến khối thêm Liệu pháp quang động điều trị ung thưPhương pháp này dựa trên sự kích thích của những chất nhạy cảm với ánh sáng cảm quang. Nó được áp dụng lên da dưới dạng kem, hoặc đưa vào mạch máu bằng cách tiêm cục bộ vào khối chất cảm quang này sẽ gắn kết vào những tế bào khối u trong cơ thể. Sau khi được kích thích bằng tia laser, những tế bào này sẽ bị phá hủy bằng sự thành lập của các gốc oxy hoạt trong những ưu điểm của liệu pháp này so với hóa trị là hệ miễn dịch không những không bị yếu đi, mà còn được tăng cường bởi những hiệu ứng tích cực từ liệu pháp laser tĩnh mạch. Hơn nữa, hiệu quả miễn dịch thứ cấp sẽ xuất hiện PDT-immunization.Liệu pháp quang động còn có thể được kết hợp rất hiệu quả với một lượng xạ trị thấp. Ngoài ra, còn có nhiều liệu pháp xạ trị hiện nay có thể được kích thích bằng liệu pháp laser. Khi so sánh với liệu pháp xạ trị thông thường, những phương pháp này có ít tác dụng chế hoạt động của liệu pháp quang động PDTNhững chất cảm quang sẽ được đưa vào cơ thể và kích hoạt thông qua liệu pháp laser tĩnh mạch. Sau 2-3 giờ, những nhân tố cảm quang sẽ bám vào những tế bào ung thư. Tia laser bây giờ có thể chiếu xạ và phá hủy những mô gây bệnh qua kẽ, qua nội soi hoặc qua công nghệ ống thông.Các chất cảm quang Indocyanine xanh lá, Chlorin E6, Curcumin và Hypericin là những chất cảm quang đặc biệt và tự nhiên, cho nên hầu như không có tác dụng phụ khi sử dụng. Liệu pháp quang động ứng dụng trong điều trị khối u8. Liệu pháp quang động chống siêu viLiệu pháp quang động chống siêu vi aPDT có mục tiêu là tiêu diệt những vi khuẩn, mầm bệnh virus và kí sinh trùng. Phương pháp điều trị rất giống với phương pháp quang động sử dụng cho khối u. Thay vì nhắm vào khối u, những nhân tố cảm quang sẽ bám vào những mầm bệnh. Riboflavin, Hyperricin và Curcumin là những nhân tố cảm quang phổ biến. Nó được kích hoạt bằng liệu pháp laser cục bộ hoặc truyền vào tĩnh mạch để chống lại những mầm bệnh trên cơ thể hoặc trong mạch lý thuyết, tất cả vi khuẩn, mầm bệnh và ký sinh trùng đều có thể được điều trị bằng liệu pháp PDT. Một trong những lợi thế của liệu pháp này là nó có thể tiêu diệt được cả những mầm bệnh đa kháng. Riboflavin và Curcumin được kích thích bằng tia laser xanh, trong khi Hypericin có phản ứng với laser lý thuyết, tất cả vi khuẩn, mầm bệnh và ký sinh trùng đều có thể được điều trị bằng liệu pháp PDTHypericin có phản ứng với laser vàngLiệu pháp quang động chống siêu vi được ứng dụng trong điều trị/ hỗ trợ điều trị Bệnh truyền nhiễm do virus viêm gan, HIV, mụn rộp Nhiễm khuẩnStaphylococci đa kháng Bệnh liên quan đến ký sinh trùng Bệnh tiên phong trong liệu pháp điều trị laser hiện đại Bác sĩ Michael WeberBác sĩ Michael Weber đã làm bác sĩ tại Đức được hơn 20 năm. Đến nay, ông quản lý 3 trung tâm y tế nội tổng quát và nội khoa, liệu pháp giảm đau, châm cứu và liệu pháp quang động điều trị khối u. Ngoài tấm bằng y học, bác sĩ Weber còn có bằng trong lĩnh vực hóa sinh, giúp ông tao ra những đóng góp quyết định trong những đợt nghiên cứu và phát triển công nghệ laser là chủ tịch của Hiệp hội Ứng dụng laser y học quốc tế International Society for Medical Laser Applications ISLA và đồng biên tập viên cho nhiều tạp chí y khoa quốc tế, với tiêu điểm là những đợt nghiên cứu và phát hành của những quy trình điều trị mới trong sự hợp tác với nhiều trường đại học và các tổ chức quốc nghệ “Weberneedle”™ đã được cấp bằng sáng chế, được phát triển bởi chính bác sĩ Weber, cho phép áp dụng những tia laser tập trung cao độ và hiệu quả với nhiều bước sóng khác nhau, tạo nên nhiều lợi ích cho sức khỏe bệnh LỊCH TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ TẠI NƯỚC Tác giả R. Glen Calderhead. Biên dịch Bác sĩ Trương Tấn Minh Vũ. Để tải bài viết LIỆU PHÁP ÁNH SÁNG LED Cơ chế hoạt động pdf mời các bạn click vào link ở đây. Khi năng lượng ánh sáng tới mục tiêu, phản ứng trong mục tiêu theo sau sự hấp thụ được gọi là cơ chế hoạt động. Trong phương pháp quang trị liệu bằng đèn LED, có hai cơ chế hoạt động chính liệu pháp quang động photodynamic therapy, PDT và quang điều biến photobiomodulation không tạo nhiệt và không tổn thương, là những cơ chế hoạt động hoàn toàn khác nhau. Liệu pháp quang động PDT PDT có thể ngoại sinh hoặc nội sinh, hình thức được biết đến nhiều hơn là ngoại sinh. PDT ngoại sinh Exogenous PDT PDT ngoại sinh thường được định nghĩa là “Việc sử dụng một chất hóa học, qua đường uống, tiêm tĩnh mạch hoặc bôi tại chỗ trực tiếp lên da, có thể được kích hoạt hoặc cung cấp năng lượng bằng ánh sáng để phá hủy mô đích ưu tiên ở vị trí hóa chất hoặc chất đó bám vào. Sự kích hoạt này gây ra sự hình thành các phân tử mới và các gốc tự do như các loại oxy phản ứng ROS có thể hình thành các hóa chất khác, và nó có thể phá hủy thành phần của mô đích ở mức độ khác nhau, chẳng hạn như thông qua quá trình chết theo chương trình qua trung gian ROS của các tế bào nhạy sáng hoặc sự tắc nghẽn của các mạch máu nuôi mô đích”. PDT là một nhánh khác của liệu pháp quang trị liệu, và trong khi PDT ngoại sinh do đó vẫn là một phản ứng không tạo nhiệt, nó không phải không gây tổn thương vì mục tiêu chính là cố ý gây chết tế bào theo chương trình apoptosis. Ứng dụng chính đầu tiên của liệu pháp quang động là trong điều trị một số bệnh ung thư, với các chất nhạy sáng như dẫn xuất hematoporphyrin được kích hoạt với mức độ tới thấp của ánh sáng laser, đặc biệt với ánh sáng đỏ nhìn thấy được như từ laser HeNe do bước sóng này xuyên sâu tốt hơn bước sóng khả kiến trong mô người sống [19]. Điều này kích hoạt hoạt động tiêu diệt tế bào do nhiễm độc ánh sáng phụ thuộc oxy bên trong các tế bào chứa tác nhân và oxy đơn tự do 1O2, một sản phẩm tồn tại trong thời gian ngắn từ phản ứng giữa một phân tử nhạy cảm bị kích thích và oxy, đóng một phần rất quan trọng trong việc kích thích tế bào chết theo chương trình apoptosis và phá hủy vi mạch nuôi khối u. Một trong những ứng dụng đầu tiên của đèn LED trên thực tế là PDT cho các bệnh ung thư da không phải u hắc tố non-melanoma skin cancers, NMSC, như ung thư biểu mô tế bào đáy và ung thư biểu mô tế bào vảy bề mặt, hoặc tổn thương nghiêm trọng do ánh nắng mặt trời như dày sừng ánh sáng với việc sử dụng một hợp chất ngoại sinh khác, axit 5-aminolevulinic 5-ALA ở bất kỳ dạng nào. Ứng dụng này tiếp tục cho đến nay với hiệu quả tốt kết quả lâu dài [20, 21]. 5-ALA bôi tại chỗ thâm nhập vào lớp bì dưới một lớp phủ kín, và được chuyển đổi như một phần của chu trình heme dựa trên ty thể thành coproporphyrin III Cp III, một thành viên của nhóm porphyrin nhạy ánh mạnh. Khi lượng Cp III tối đa đã được chuyển đổi, phần còn lại của 5-ALA được chuyển đổi thành một porphyrin khác, protoporphyrin IX Pp IX. Hai porphyrin này trở thành mục tiêu cụ thể của năng lượng LED ở các bước sóng cụ thể, và sau quá trình kích hoạt quang học, làm tổn thương không chọn lọc tất cả các mô bề mặt da mà chúng tồn tại, như được minh họa bằng sơ đồ trong Hình Hình Sự xâm nhập không chọn lọc vào da của Pp IX và Cp III có nguồn gốc 5-ALA. a Tổn thương đích ở lớp biểu bì. b Thuốc mỡ 5-ALA bôi tại chỗ cho lớp biểu bì. c Khi 5-ALA thâm nhập vào tế bào da, nó được biến đổi thành Cp III và Pp IX, porphyrin nhạy cảm với ánh sáng. d Ánh sáng ở bước sóng thích hợp kích hoạt các porphyrin tạo ra các loại oxy phản ứng mạnh nhưng tác dụng rất ngắn, như oxy đơn, và các tế bào da bị ảnh hưởng chết do quá trình apoptosis qua trung gian stress oxy hóa gây ra sự phá hủy tế bào Khi phản ứng quang học được chuẩn bị, như 5-ALA PDT cho bất kỳ mục đích nào, một phổ ánh sáng hoạt hoá phải được thử để khảo sát khả năng hoạt hoá của một loạt các bước sóng trong hợp chất đích. Hình cho thấy phổ hấp thụ của Pp IX và Cp III. Có một đỉnh rất lớn ở bước sóng 415 nm trong dải Soret màu xanh lam nhìn thấy được, nhưng như được nhắc tới ở phần trước về bước sóng, ánh sáng xanh lam có khả năng thâm nhập rất kém vào lớp bì và vì vậy nó sẽ không gây ra tổn thương đủ sâu để điều trị NMSCs thành công. Tuy nhiên, một loạt các đỉnh khác nhỏ hơn nhiều được nhìn thấy từ dải sóng màu vàng đến màu đỏ dải Q, phía sau xuất hiện ở khoảng 633 nm, được sử dụng trong những lúc đầu của PDT với dẫn xuất hematoporphyrin cho các loại ung thư khác như là bước sóng có khả năng xâm nhập tốt hơn nhiều, do đó tạo ra vùng kích hoạt porphyrin sâu hơn và do đó vùng sâu hơn và khối lượng bị tổn thương do ánh sáng có kiểm soát lớn hơn. 5- ALA kích hoạt bằng đèn LED 633 nm màu đỏ đã được sử dụng thành công cho NMLCs và dày sừng ánh sáng, trẻ hóa và mụn trứng cá viêm sưng. Những điều này sẽ được thảo luận chi tiết hơn trong phần phụ thích hợp về phương pháp chiếu đèn LED trong thực hành lâm sàng. Hình Phổ hoạt động của coproporphyrin III và protoporphyrin IX. Lưu ý đỉnh cao nhất ở 415 nm và nhỏ hơn ở 633 nm, ánh sáng màu đỏ nhìn thấy được, đặc biệt là ở Pp IX, đề xuất dùng bước sóng màu đỏ để kích hoạt sâu hơn các porphyrin được tạo ra từ 5-ALA trong PDT đối với các tổn thương da. PDT nội sinh Endogenous PDT PDT ngoại sinh phụ thuộc vào chất nhạy sáng bên ngoài, như 5-ALA. Trong PDT nội sinh, chất nhạy sáng có thể được tìm thấy xuất hiện tự nhiên trong tế bào hoặc mô đích. Sử dụng ngoại sinh của 5-ALA gây ra sự tổng hợp porphyrin Pp IX và CP III một cách không chọn lọc trong các mô của biểu bì và bì dưới khu vực sử dụng như đã giải thích ở trên. Tuy nhiên, trong trường hợp mụn trứng cá, các tổn thương mụn viêm có liên quan đến sự hiện diện của vi khuẩn gây bệnh, Propionibacterium acnes P. acnes. Người ta đã chứng minh rằng cả Pp IX và Cp III đều có trong P. acnes hoạt động, và vi khuẩn càng hoạt động mạnh thì nồng độ porphyrin càng cao [22–24]. Xem lại Hình sự kích hoạt do ánh sáng cực đại của cả Pp IX và Cp III xảy ra ở khoảng 415 nm. Do đó, ánh sáng ở bước sóng này, với cường độ photon đủ cao, có thể hoạt hóa được các porphyrin bên trong P. acnes, do đó tiêu diệt có chọn lọc hoặc ít nhất làm tổn hại nghiêm trọng P. acnes thông qua quá trình chết theo chương trình do stress oxy hóa [25], nhưng không gây hại các tế bào da xung quanh. Do đó, PDT nội sinh có thể được áp dụng trong điều trị chỉ bằng ánh sáng đối với các tổn thương do P. acnes gây viêm mà không cần đến bất kỳ 5-ALA ngoại sinh nào. Quang điều biến Photobiomodulation Về cơ bản, phần lớn thông tin trong các phần “Giới thiệu” và “Khái niệm cơ bản về Tương tác Mô- Ánh sáng” dựa trên khái niệm photobiomodulation, còn được gọi là liệu pháp quang hoạt, và cách tiếp cận này hoàn toàn đáp ứng định nghĩa của quang trị liệu, cụ thể là kích hoạt trực tiếp tế bào theo cách không tạo nhiệt và không tổn thương vốn là cơ chế hoạt động bao trùm lâu nay của liệu pháp ánh sáng cường độ thấp low level light therapy, LLLT trong hơn 30 năm lịch sử của nó, cho dù với nguồn laser hay không laser. Do đó, LLLT không tạo nhiệt và không tổn thương khác với PDT, vốn tích cực tìm cách làm tổn thương các tế bào và mô đích, mặc dù vẫn bằng cách không tạo nhiệt. Như đã được thảo luận trong phần “Bước sóng và tầm quan trọng của nó” về bước sóng, ánh sáng hồng ngoại gần và ánh sáng khả kiến có các mục tiêu hấp thụ khác nhau tương ứng là màng tế bào và các bào quan dưới tế bào nhưng kết quả cuối cùng là như nhau, và mức năng lượng của tế bào là được nâng lên bởi cả ánh sáng hồng ngoại gần và ánh sáng nhìn thấy có bước sóng thích hợp thông qua sự hấp thụ trực tiếp năng lượng photon tới, năng lượng này sau đó được chuyển đến tế bào thụ cảm mà không bị thất thoát qua nhiệt hoặc phát quang. Cơ chế hoạt động chính được kết nối với việc tăng sản xuất adenosine triphosphate ATP và tăng tín hiệu ion Ca2 + trong và ngoài tế bào [26]. Dưới sự kích hoạt của ánh sáng, ba điều có thể xảy ra với tế bào được cung cấp năng lượng nếu nó bị tổn hại hoặc bị tổn thương theo một cách nào đó, tế bào sẽ chữa lành nhanh hơn nhiều; nếu tế bào được thiết kế để thực hiện một số chức năng cụ thể, chẳng hạn như tạo nguyên bào sợi và tạo tế bào da, thì tế bào được điều trị bằng LLLT sẽ thực hiện các chức năng này tốt hơn và nhanh hơn; cuối cùng, nếu tế bào được thiết kế để tái tạo, thì nó sẽ tái tạo nhanh hơn [14]. Những điều này có thể xảy ra đơn lẻ hoặc kết hợp và tạo thành nền tảng của ba thập kỷ kiến thức về LLLT, trong đó một số, nhưng không phải tất cả, các cơ chế dưới cái ô của quang điều biến ít nhất đã được làm sáng tỏ một phần như tóm tắt trong Bảng và tại mức phân tử trong Bảng Ngoài ra, đặc biệt trong thập kỷ qua, rất nhiều bài báo khoa học cơ bản và lâm sàng đã chứng thực những phát hiện cơ bản và lâm sàng trước đây về đèn chiếu LED, và một số khoa học mới thú vị về LED- LLLT đã xuất hiện trong 5 năm qua. LED-LLLT có thể được sử dụng kết hợp với các phương thức thông thường khác để cải thiện kết quả và đẩy nhanh thời gian chữa bệnh, đồng thời cũng có thể cung cấp một sự kết hợp rất thú vị với PDT ngoại sinh hoặc nội sinh trong điều trị mụn trứng cá viêm. Bảng Tóm tắt các cơ chế chính liên quan đến quá trình quang hoạt và LLLT Tạo nhiệt nhẹ <40 ° C Sinh hóa chủ yếu cho ánh sáng khả kiến Điện sinh học Năng lượng sinh học ↑ Dẫn truyền thần kinh Hoạt động trong ti thể ↑ Sản xuất ATP ↑ Giải phóng oxit nitric NO ↑ Mức độ rất thấp của các loại oxy phản ứng ROS ↑ Hoạt động điện động trên cơ chế vận chuyển ion liên kết màng ↑ Các thay đổi xoay chiều và dao động đối với các electron của phân tử màng Chủ yếu cho IR gần ↑ Sự giãn nở mao mạch ↑ tăng sinh nguyên bào sợi → Tổng hợp collagen và elastin ↑ Các thay đổi gradient ion ngoài tế bào- trong tế bào ↑ Kích thích các huyệt đạo ↑ sự suy thoái tế bào mast giải phóng cytokine, chemokine và yếu tố dinh dưỡng ↑ Khử cực của khe synap → đóng cổng synap — kiểm soát đau ↑ Tăng hoạt tính quang sinh ↑ Hoạt động của đại thực bào điều hòa hóa học và nội hóa → giải phóng FGF ↑ Kích hoạt cơ chế kiểm soát cổng doral horn → quá trình truyền cơn đau chậm lại, tăng khả năng kiểm soát cơn đau ↑ Hoạt động của tế bào sừng → giải phóng cytokine trong biểu bì và bì ↑ Kiểm soát cơn đau opiate và nonopiate endorphin, dynorphins và enkephalins ↑ Tổng hợp RNA / DNA ↑ Sản xuất enzyme ↑ Sản xuất Superoxide dismutase SOD tế bào mast Bảng Kích hoạt mức phân tử bằng LLLT với đèn LED thích hợp Phân loại Phân tử Hiệu ứng sinh học liên quan đến LLLT Yếu tố tăng trưởng BNF, GDNF, FGF, bFGF, IGF-1, KGF, PDGF, TGF-β, VEGF Tăng sinh. Biệt hoá. Hình thành nốt xương. Interleukins IL-1α IL-2, IL-4, IL-6, IL-8 Tăng sinh. Di cư. Kích hoạt miễn dịch. Các cytokine gây viêm PGE2, COX2, IL1β, TNF-α Tăng tốc / ức chế viêm Các phân tử nhỏ ATP, cGMP, ROS, CA2 +, NO, H + Bình thường hóa chức năng của tế bào. Giảm đau. Lành vết thương. Trung gian các hoạt động của tế bào. Di cư. Tạo mạch. Box • LED-LLLT trong phương pháp kết hợp hổ trợ là chìa khóa cho hiệu quả lâm sàng. LED-LLLT không phải là phép màu… nó không thể nhắm mọi mục tiêu dưới dạng đơn trị liệu. • Dựa trên tài liệu đã được xuất bản, một số bước sóng nhất định có thể thực hiện những điều khác nhau trong LED-LLLT. ✓ 633 nm đã chứng minh hiệu quả trong 5-ALA PDT đối với bệnh ung thư da không hắc tố, và đã được ứng dụng trong việc phục hồi tóc và ngăn ngừa hói đầu. ✓ 415 nm màu xanh PDT nội sinh kết hợp với LED-LLLT 633 nm hoặc 830 nm màu đỏ được áp dụng tuần tự được báo cáo là một liệu pháp ánh sáng rất hiệu quả đối với mụn trứng cá ở mức độ trung bình đến nặng. ✓ Kết hợp hồng ngoại gần 833 nm và 633 nm LED-LLLT đỏ, áp dụng tuần tự, được báo cáo là rất hiệu quả trong việc trẻ hóa da và tất cả các khía cạnh chữa lành vết thương, nhưng các tài liệu gần đây cho thấy rằng 830 nm là bước sóng quan trọng trong các chỉ định này. ✓ Ánh sáng vàng nhìn thấy được 590 nm, 595 nm đã cho thấy hiệu quả trong điều trị các tình trạng bề mặt, ví dụ trong điều trị rosacea. ✓ Đèn LED sẽ bổ sung cho bất kỳ và tất cả các phương thức thông thường hiện có làm thay đổi cấu trúc của da theo bất kỳ cách nào để đạt được kết quả lâm sàng mong muốn.

liệu pháp ánh sáng