Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thế H2 và một phần kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Long H. Hủy Bản án sơ thẩm thẩm số 32/2021/DS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân
Nhóm chúng tôi lựa chọn bình luận một bản án phúc thẩm về tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính, với mong muốn qua những phân tích, bình luận có thể. tiền thuê và phí cho bên A. * Hợp đồng quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng trước thời hạn: Hợp đồng
Bạn đang xem: Đề cương ôn tập học kì 2 môn Tin học lớp 10 tại thcslongan.edu.vn Bạn đang xem: Đề cương ôn tập học kì 2 môn Tin học lớp 10 tại thcslongan.edu.vn 2 ngày trước 3 ngày trước 3 ngày trước 3 ngày trước 3 ngày trước 4 ngày trước 4 ngày trước Đọc tiếp
Bản án về tranh chấp hợp đồng thương mại số 4: Quyết định giám đốc thẩm 05/2008/KDTM-GĐT ngày 03/6/2008 về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ giao nhận hàng hóa. Công ty KRV và Công ty TFS có ký với nhau Hợp đồng dịch vụ giao nhận hàng hóa, theo đó Công ty TFS sẽ giao
Án lệ 08/2016/AL là về cách tính thời hạn, mức lãi sau khi có phán quyết sẽ được áp dụng cho việc giải quyết các hợp đồng vay tài sản của các tổ chức tín dụng mà trong hợp đồng hai bên có thảo thuận về tính lãi liên tục đối với phần nghĩa vụ chưa thực hiện. Khi giải quyết các tranh chấp về hợp
SzfzDV. BÌNH LUẬN CÁC BẢN ÁNTRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNGVỤ VIỆC SỐ 1. Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Công ty tài chính DK vớiCông ty xuất nhập khẩu in VNTóm tắt nội dung vụ việcNgày 09/6/2007, bằng văn bản số 284/CV-PVFC-10 Công ty tài chínhDK đã khởi kiện vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồng tín dụng ra Tòa án yêu cầu xửbuộc Công ty xuất nhập khẩu in VN phải thanh toán cả gốc và lãi của hai hợp đồng tíndụng số 97/2003/HĐTD-PVFC-10 ngày 20/10/2003 và số 144/2007/HĐTD-PVFC-10ngày 08/01/2007 với tổng số tiền là được thông tin Công ty cổ phần Trịnh T đang nợ Công ty xuất nhập khẩu inVN số tiền là đồng, sau khi trao đổi với Công ty cổ phần Trịnh T và nhậnđược văn bản số 10/VT ngày 04/6/2007 của Công ty cổ phần Trịnh T xác nhận nợ vàhứa hẹn việc có thể chuyển trả thẳng cho Công ty tài chính DK, ngày 12/7/2007 Công tytài chính DK đã gửi văn bản số 333/CV/PVFC-10, yêu cầu Tòa án ra quyết định áp dụngbiện pháp khẩn cấp tạm thời Kê biên khoản nợ phải thu trên của Công ty xuất nhập khẩuin VN, yêu cầu Công ty cổ phần Trịnh T chuyển khoản nợ này vào một tài khoản trunggian để bảo đảm thi hành án cho Công ty tài chính DK sau khi nhận được văn bản yêu cầu của Công ty tài chính DK và các văn bản xácnhận nợ của Công ty cổ phần Trịnh T, ngày 27/7/2007 Tòa án đã ban hành Quyết định ápdụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 216/BPTT-KT với nội dung chính như sau “Kêbiên số tiền đồng là nợ phải thu từ Công ty cổ phần Trịnh T .Công ty cổ phần Trịnh T có trách nhiệm chuyển số tiền nói trên vào tài khoản của Phòng Thi hành án thành phố tại Kho bạc nhà nước thành phố”.Ngày 07/9/2007, Công ty tài chính DK và Công ty xuất nhập khẩu in VN đã hòagiải được với nhau, Tòa án đã lập được biên bản hòa giải thành và ban hành Quyết địnhcông nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 228/CNTT-KTST ngày 07/9/2007 với nộidung như sau“1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự với nhauXác nhận dư nợ của các hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 07/9/2007, cụ thểnhư saua. Hợp đồng tín dụng số số 97/2003/HĐTD-PVFC-10 ký ngày 20/10/2003- Vốn vay chưa hoàn trả Lãi chưa thanh toán Hợp đồng tín dụng số 144/2007/HĐTD-PVFC-10 ký ngày 08/01/2007 - Vốn vaychưa hoàn trả Lãi chưa thanh toán ty xuất nhập khẩu in VN xác nhận trách nhiệm thanh toán cho Công ty tàichính DK số tiền đồng nói trên và số tiền lãi tiếp tục phát sinh tính trênsố nợ gốc chưa hoàn trả theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng nhà nước quy địnhtheo từng thời điểm, tính từ ngày 08/9/2007 cho đến khi thi hành án Công ty xuất nhập khẩu in VN không thanh toán nợ, thì chấp nhận chịu biệnpháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật.”Ngày 06/9/2010, Toà án có thẩm quyền đã ra quyết định kháng nghị Quyết địnhcông nhận sự thoả thuận nói trên theo trình tự giám đốc luận- Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi xác định nghĩa vụ trảnợ thay của Công ty cổ phần Trịnh T, nhưng lại không đưa Công ty cổ phần Trịnh T vàotham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không gửi cácquyết định của Tòa mà Công ty cổ phần Trịnh T phải tiến hành cho Công ty cổ phầnTrịnh T, vi phạm các quy định tại Điều 56 Bộ luật Tố tụng dân 56 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định1. Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn,bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan,tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dânsự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà ánbảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng lànguyên Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơquan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ ándân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy khôngkhởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi,nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và đượcToà án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩavụ liên Trong trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩavụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cáchlà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Toà án phải đưa họ vào tham gia tố tụng vớitư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên ràng việc công nhận sự thoả thuận của Công ty tài chính DK và Công ty in VNvề việc Công ty Trịnh T phải trả nợ thay mặc dù đã có văn bản chấp nhận nghĩa vụ củaCông ty Trịnh T là có ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty Trịnh T, Toà án phải xácđịnh Công ty này là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới Có quan điểm Toà án có thẩm quyền đã ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩmngoài thời hạn theo quy định tại Điều 288 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Tuy nhiênquan điểm này không 288 Bộ luật Tố tụng dân sự quy địnhNgười có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm chỉ được tiến hành việckháng nghị trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lựcpháp 07/9/2007 là ngày các bên đương sự thoả thuận được với nhau về việc giảiquyết vụ án và Toà án đã ra Quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự. Quyếtđịnh này có hiệu lực thi hành ngay. Đây là quy định khác với quy định của Pháp lệnh thủtục giải quyết các vụ án kinh tế trước đây theo đó Quyết định công nhận sự thoả thuậncủa các bên đương sự có hiệu lực sau 07 ngày kể từ ngày ra quyết định. Ngày 06/9/2010là ngày người có thẩm quyền ra văn bản kháng nghị theo thủ tục giám đốc là sớm hơn sovới thời hạn luật định là 01 Có quan điểm cho rằng sự thỏa thuận giữa Công ty xuất nhập khẩu in VN và Côngty cổ phần Trịnh T về việc Công ty xuất nhập khẩu in VN chuyển giao nghĩa vụ trả tiềncho Công ty tài chính DK sang cho Công ty cổ phần Trịnh T không cần thiết phải có sựchấp thuận của Công ty tài chính DK. Quan điểm này cũng không đúng bởi theo quy địnhcủa Điều 315 BLDS năm 2005 thì việc chuyển giao nghĩa vụ phải có sự đồng ý của bêncó quyền. Nguyên tắc chung là việc chuyển giao nghĩa vụ phải có sự đồng ý của bên cóquyền, còn việc chuyển giao quyền không cần phải có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ chỉthực hiện nghĩa vụ thông báo theo quy định của Điều 309 BLDS năm 2005.Điều 315 BLDS năm quy địnhBên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ dân sự cho người thế nghĩa vụ nếuđược bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên cónghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa 309 BLDS năm 2005 quy định1. Bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể chuyển giao quyền yêucầu đó cho người thế quyền theo thoả thuận, trừ những trường hợp sau đâya Quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tínhmạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín;b Bên có quyền và bên có nghĩa vụ có thoả thuận không được chuyển giao quyềnyêu cầu;c Các trường hợp khác do pháp luật quy Khi bên có quyền yêu cầu chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế quyền thìngười thế quyền trở thành bên có quyền yêu chuyển giao quyền yêu cầu phải báo cho bên có nghĩa vụ biết bằng văn bảnvề việc chuyển giao quyền yêu cầu. Việc chuyển giao quyền yêu cầu không cần có sựđồng ý của bên có nghĩa vụ, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quyđịnh VIỆC SỐ 2 Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng CT Việt Namvới Công ty thương mại xây dựng HTóm tắt nội dung vụ việcNgày 07/3/2009, Công ty thương mại xây dựng H có thư bảo lãnh số 142 cho Chinhánh Sài Gòn A là đơn vị thuộc Công ty thương mại xây dựng H vay tiền của Chi nhánhNgân hàng CT thành phố Hồ Chí Minh thuộc Ngân hàng CT Việt Nam. Thư bảo lãnh vớisố tiền 10 tỷ đồng có tài khoản 710-A00477 tại Ngân hàng CT Việt Nam và tài khoảnngoại tệ số 362-111-37-0333 tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Từ thư bảo lãnhnày, Chi nhánh Sài Gòn A đã lập khế ước vay Ngân hàng như sau1. Ngày 29/7/2009 mở L/C số 0104106/T95LC91 trả chậm một năm không quyđịnh lãi suất, nhưng có phí chuyển tiền với số tiền là USD. Từ ngày 23/8/2010đến ngày 15/11/2010 đã trả được USD, nợ gốc còn Khế ước số 95000634 ngày 02/10/2009 vay số tiền là đồng và đã trả lãitrong hạn được Khế ước số 9500034 ngày 29/11/2009 vay đồng. Chưa trả được gốc vàlãi quá Khế ước số 9501051 ngày 26/12/2009 vay đồng, hợp đồng ngoạitệ còn nợ 15/4/2011, Công ty thương mại xây dựng H được khoanh nợ 05 tháng là đượctrừ lãi đã thu vào gốc là đồng. Như vậy, tổng số tiền mà phía bị đơn đã trảđược là đồng tiền gốc. Còn nợ gốc sau khoanh nợ là đồngvà thời gian khoanh nợ, Ngân hàng CT đã đến Chi nhánh Sài Gòn A lập biên bảnnhận nợ và hai bên đã xác nhận với nhau Sài Gòn A còn nợ Ngân hàng là tiền gốc và đồng tiền lãi quá hạn. Về ngoại tệ nợ gốc USD,lãi nợ quá hạn nhiều lần đề nghị thanh toán không thành, Ngân hàng đã tiến hành khởi kiệnChi nhánh Sài Gòn A với yêu cầu Tòa án buộc Chi nhánh Sài Gòn A phải trả nợ và xácđịnh Công ty thương mại xây dựng H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải đứngra trả nợ thay cho Chi nhánh Sài Gòn A khi Chi nhánh không thực hiện nghĩa luận- Trong vụ án này cần xác định đúng tư cách bị đơn đó chính là Công ty thương mạixây dựng H chứ không phải Chi nhánh Sài Gòn A theo quy định của Điều 37 Luật Doanhnghiệp năm 2005, Điều 92, 93 BLDS năm quy định của khoản 2 Điều 37 Luật Doanh nghiệp năm 2005, Điều 92, 93BLDS năm 2005, chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiệntoàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp, kể cả chức năng đại diện theo ủyquyền và doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sựdo người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp 37 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định1. Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ đại diệntheo uỷ quyền cho lợi ích của doanh nghiệp và bảo vệ các lợi ích đó. Tổ chức và hoạtđộng của văn phòng đại diện theo quy định của pháp Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộhoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo uỷ nghề kinh doanh của chi nhánh phải phù hợp với ngành, nghề kinh doanh củadoanh Địa điểm kinh doanh là nơi hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp đượctổ chức thực hiện. Địa điểm kinh doanh có thể ở ngoài địa chỉ đăng ký trụ sở Chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh phải mang tên của doanhnghiệp, kèm theo phần bổ sung tương ứng xác định chi nhánh, văn phòng đại diện và địađiểm kinh doanh Doanh nghiệp có quyền lập chi nhánh, văn phòng đại diện ở trong nước và nướcngoài. Doanh nghiệp có thể đặt một hoặc nhiều văn phòng đại diện, chi nhánh tại một địaphương theo địa giới hành chính. Trình tự và thủ tục lập chi nhánh, văn phòng đại diệndo Chính phủ quy 92 BLDS năm 2005 quy định1. Pháp nhân có thể đặt văn phòng đại diện, chi nhánh ở nơi khác với nơi đặt trụ sởcủa pháp Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ đại diện theouỷ quyền cho lợi ích của pháp nhân và thực hiện việc bảo vệ các lợi ích Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộhoặc một phần chức năng của pháp nhân, kể cả chức năng đại diện theo uỷ Văn phòng đại diện, chi nhánh không phải là pháp nhân. Người đứng đầu vănphòng đại diện, chi nhánh thực hiện nhiệm vụ theo uỷ quyền của pháp nhân trong phạmvi và thời hạn được uỷ Pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do vănphòng đại diện, chi nhánh xác lập, thực 93 BLDS năm 2005 quy định1. Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sựdo người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu tráchnhiệm thay cho thành viên của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do thành viên xác lập,thực hiện không nhân danh pháp Thành viên của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đốivới nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực VIỆC SỐ 3. Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng H với Công tycổ phần thương mại và phát triển gia súc T gọi tắt là Công ty TTóm tắt nội dung vụ việctích7746m2với giá đồng và Công ty T bán cho ông An 300 con bò thành tiền đồng. Ngày 11 và 13/12/2007 Công ty T bán cho ông M 358 con bò thànhtiền là 12/2/2009, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty T phải thanhtoán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi của 04 hợp đồng tín dụng nói trên tính đến ngày31/01/2009 gồm nợ gốc là đồng, và nợ lãi là Tòa án chưa nhận đơn và thụ lý vụ án thì ngày 13/12/2007, Ngân hàng và Côngty đã có văn bản thỏa thuận thống nhất bàn giao tài sản thế chấp của các hợp đồng tíndụng trên có trị giá là đồng và Ngân hàng đã đơn phương bán tài sản thếchấp mà không có sự thỏa thuận thống nhất của Công ty T. Cụ thể là Ngân hàng đã trưngcầu Trung tâm tư vấn tài chính giá cả T định giá lại tài sản bàn giao ngày 13/12/2007 vớikết quả định giá là đồng. Ngày 04/7/2007 Ngân hàng tổ chức bán đấu giátài sản cho Công ty cổ phần C với giá đồng, sau khi trừ chi phí chăm sócđàn bò thì số tiền còn lại Ngân hàng thực thu từ việc bán tài sản là đồng đểtrừ vào các khoản vay nợ của Công ty T theo 4 hợp đồng tín dụng trên. Công ty T đượcthông báo về việc này nhưng cũng không có ý kiến phản tính toán của Ngân hàng thì số tiền còn lại mà Công ty T còn nợ sau khi đãđược khấu trừ số tiền bán tài sản thế chấp là đồng nợ gốc đồng nợ lãi, tổng cộng là lại, phía Công ty T lại có yêu cầu phản tố cho rằng Ngân hàng đã bán tài sảngây thiệt hại cho Công ty là đồng theo tính toán của Công ty về giá trị tàisản trừ đi nợ của Công ty.Bình luận- Việc Ngân hàng tự xử lý tài sản thế chấp để khấu trừ công nợ là vi phạm các quyđịnh của pháp luật nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng sẽ không được Tòa án xem xétchấp nhận. Mặc dù việc Ngân hàng và Công ty T bàn giao tài sản thế chấp và xác địnhgiá trị tài sản bàn giao để thu hồi nợ trước hạn là phù hợp với hướng dẫn tại Thông tư liêntịch số 03/2001/TTLT/NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC ngày 23/4/2001 hướng dẫn xử lýtài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, khi có tranhchấp thì đáng lẽ ra trong quá trình Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án thì Ngân hàng phảiyêu cầu Tòa án xử lý tài sản này để thu hồi nợ và phải chờ kết quả giải quyết của Tòa ántheo đúng quy định tại khoản 4 Điều 34 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín tư liên tịch số 03/2001/TTLT/NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC quy định vềcác phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận như sau Bán tài sản bảo đảma Việc bán tài sản bảo đảm thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Nghị địnhsố 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổchức tín dụng sau đây gọi chung là Nghị định số 178. Các bên thoả thuận định giá tàisản bảo đảm để bán theo quy định tại mục VII phần Hợp đồng mua bán tài sản được lập thành văn bản giữa bên được bán tài sản bảođảm và bên mua tài sản bảo đảm. Trong trường hợp bên bảo đảm và tổ chức tín dụngkhông có thoả thuận hoặc không thoả thuận được bên bán tài sản bảo đảm, thì tổ chức tíndụng quyết định bên bán theo một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 34Nghị định số Tổ chức tín dụng nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụđược bảo Tổ chức tín dụng và bên bảo đảm lập biên bản nhận tài sản bảo đảm để thay thếcho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm. Biên bản phải ghi rõ việc bàn giao, tiếp nhận,định giá xử lý tài sản bảo đảm và thanh toán nợ từ việc xử lý tài sản bảo đảm theo quyđịnh tại Thông tư Sau khi nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảođảm, tổ chức tín dụng được làm thủ tục nhận chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụngtài sản bảo đảm hoặc được bán, chuyển nhượng tài sản bảo đảm cho bên mua, bên nhậnchuyển nhượng tài sản theo quy định của pháp Tổ chức tín dụng nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phảigiao cho bên bảo Tổ chức tín dụng hoặc bên bảo đảm phải thông báo cho bên thứ ba biết việc tổchức tín dụng được nhận các khoản tiền, tài sản nêu trên, đồng thời yêu cầu bên thứ bagiao các khoản tiền, tài sản đó cho tổ chức tín dụng. Việc giao các khoản tiền, tài sản chotổ chức tín dụng phải thực hiện theo đúng thời hạn, địa điểm được ấn định trong thôngbáo xử lý tài sản bảo đảm, trừ trường hợp quy định tại Điều 320 với tài sản bảo đảm quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản mục IIChương II Thông tư số 06/2000/TT-NHNN1 ngày 04/4/2000 của Thống đốc Ngân hàngNhà nước hướng dẫn thực hiện Nghị định số 178, tổ chức tín dụng được tiếp nhận tài sảnbảo đảm và các quyền phát sinh từ tài sản đó. Bên thứ ba có nghĩa vụ giao các khoản tiền,tài sản và chuyển giao các quyền phát sinh từ tài sản bảo đảm cho tổ chức tín Tổ chức tín dụng lập biên bản nhận các khoản tiền, tài sản giữa tổ chức tín dụng,bên bảo đảm và bên thứ ba. Biên bản nhận các khoản tiền, tài sản phải ghi rõ việc bàngiao, tiếp nhận các khoản tiền, tài sản, việc định giá tài sản và thanh toán nợ từ việc xử lýtài Sau khi tài sản bảo đảm đã được xử lý để thu hồi nợ, tổ chức tín dụng hoặc bênbảo đảm tiến hành xoá đăng ký xử lý tài sản, xoá đăng ký giao dịch bảo đảm theo quyđịnh của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm”.Điều 34 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP quy định về xử lý tài sản bảo đảm tiềnvay như sau1. Các bên thoả thuận về việc thực hiện các phương thức xử lý tài sản bảo đảm tiềnvay như quy định tại Điều 33 của Nghị định trường hợp các bên thoả thuận thực hiện phương thức bán tài sản bảo đảmtiền vay thì bên được bán tài sản có thể là khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh bán, tổ chứctín dụng bán, hai bên phối hợp cùng bán, uỷ quyền cho bên thứ ba bán. Bên được bán tàisản có thể trực tiếp bán cho người mua, uỷ quyền cho Trung tâm bán đấu giá tài sản hoặcdoanh nghiệp bán đấu giá tài sản thực hiện việc bán tài sản bảo đảm tiền Trong trường hợp tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theoquy định tại Điều 32 của Nghị định này, thì khách hàng vay, bên bảo lãnh phải giao tàisản cho tổ chức tín dụng để xử chức tín dụng có quyền thực hiện xử lý tài sản bảo đảm tiền vay như saua Trực tiếp bán cho người mua;b Ủy quyền việc bán đấu giá tài sản cho Trung tâm bán đấu giá tài sản hoặc doanhnghiệp bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản;c Ủy quyền hoặc chuyển giao cho tổ chức có chức năng được mua bán tài sản đểbán;d Khi tổ chức tín dụng nhận chính tài sản bảo đảm tiền vay để thay thế cho nghĩavụ trả nợ thì tài sản đó được chuyển quyền sở hữu cho tổ chức tín dụng;đ Trong trường hợp bên thứ ba có nghĩa vụ trả tiền hoặc tài sản cho khách hàngvay, bên bảo lãnh thì tổ chức tín dụng được trực tiếp nhận các khoản tiền hoặc tài sản từbên thứ Trong thời gian tài sản bảo đảm tiền vay chưa xử lý được, tổ chức tín dụng đượcquyền khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm. Số tiền thu được từ việc khai thác, sử dụng tàisản bảo đảm sau khi trừ các chi phí cần thiết, hợp lý cho việc khai thác, sử dụng tài sản sẽđược dùng để thu hồi Trong trường hợp các bên có tranh chấp và khởi kiện, thì tài sản bảo đảm tiền vayđược xử lý theo bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định của cơ quanNhà nước có thẩm Trong trường hợp khách hàng vay, bên bảo lãnh là doanh nghiệp bị phá sản, thìtài sản bảo đảm tiền vay được xử lý theo quy định của pháp luật về phá sản Đối với yêu cầu phản tố của Công ty T thì quá trình thực hiện hợp đồng tín dụngCông ty đã không thực hiện đúng cam kết về thời gian trả nợ nên việc Ngân hàng yêu cầuxử lý nợ trước hạn là do lỗi của Công ty. Trong quá trình bàn giao và giải quyết việc xửlý tài sản, Ngân hàng đã trưng cầu Trung tâm tư vấn giá cả và kết quả định giá, mặc dùkhông có sự tham gia của Công ty, nhưng Công ty đã được thông báo và không có sựphản đối sự định giá này nên khả năng được Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố này làkhó khả thi.
Phụ lục bài viết1 – Những vấn đề lý luận về tranh chấp hợp đồng tín – Khái – Đặc điểm cơ bản của hợp đồng tín dụng2 – Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest Hợp đồng tín dụng là một loại hợp đồng rất thông dụng trong đời sống kinh tế, xã hội nhưng mang tính chất đặc thù riêng xuất phát từ bản chất của tín dụng ngân hàng và chủ thể thực hiện hợp đồng. Từ đó có thể xảy ra phát sinh tranh chấp hợp đồng tín dụng. – Khái niệm Hợp đồng tín dụng là một loại hợp đồng rất thông dụng trong đời sống kinh tế, xã hội nhưng mang tính chất đặc thù riêng xuất phát từ bản chất của tín dụng ngân hàng và chủ thể thực hiện hợp đồng. Hợp đồng tín dụng đề cập trong khuôn khổ giáo trình này được giới hạn lại là hình thức pháp lý của quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng vay, gồm tổ chức và cá nhân. Điểm đặc thù tạo nên sự khác biệt giữa hợp đồng tín dụng và các dạng hợp đồng vay tài sản khác là bên cho vay trong các hợp đồng tín dụng bắt buộc là các tổ chức tín dụng và đối tượng luôn luôn là một khoản tiền. Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng khi các bên có mâu thuẫn, bất đồng về việc thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng Ún dụng mà không thể thương lượng giải quyết được giữa các bên. Tranh chấp hợp đồng tín dụng bao giờ cũng có một bên là tổ chức tín dụng. Để đảm bảo người vay hoàn trả đủ và đúng hạn tiền vay cho mình, các tổ chức tín dụng thường yêu cầu người vay phải có tài sản bảo đảm. Với các hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản, tổ chức tín dụng cho vay luôn có quyền ưu tiên trong việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Quyền này của tổ chức tín dụng được xác lập trên cơ sở giao dịch bảo đảm giữa tổ chức tín dụng bên nhận bảo đảm với bên bảo đảm là khách hàng vay bên vay hoặc chủ thể thứ ba bên bảo lãnh cho bên vay. Thông thường các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng do bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không đúng hạn nghĩa vụ đối với bên cho vay, như vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng. Bên cạnh đó, cũng có không ít những trường hợp tranh chấp phát sinh do tổ chức tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không đúng hạn nghĩa vụ đối với khách hàng vay, như vi phạm nghĩa vụ giải ngân, tính lãi cho vay không đúng theo thỏa thuận, thu hồi nợ hoặc xử lý tài sản bảo đảm không đúng thỏa thuận, không đúng quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết tại Tòa án, các bên thường thống nhất với nhau về số tiền đã vay, số tiền gốc và số tiền lãi đã trả; số tiền gốc còn nợ. Phần lớn các vụ án các bên chủ yếu không thống nhất được với nhau về số tiền lãi còn nợ và về việc xử lý tài sản bảo đảm đối với hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản để thu hồi nợ. Hoạt động tín dụng ngân hàng chịu sự điều chỉnh và liên quan đến rất nhiều ngành luật khác nhau, từ luật chuyên ngành về ngân hàng đến các luật khác như dân sự, doanh nghiệp, đầu tư, thương mại, xây dựng, đất đai, tài nguyên môi trường, xuất nhập khẩu, thuế, lao động, hôn nhân và gia đình, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh và các luật có liên quan khác. Do vậy, một vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng thường phức tạp và đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng và Luật sư tham gia giải quyết án tranh chấp này phải có hiểu biết, kiến thức chuyên môn nhất định về hoạt động ngân hàng và nghiệp vụ cho vay. – Đặc điểm cơ bản của hợp đồng tín dụng Về chủ thể Chủ thể giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng gồm bên cho vay và bên vay vốn. Bên cho vay là các tổ chức tín dụng Việt Nam và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, đây là một dạng doanh nghiệp đặc biệt, thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng, bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Bên vay vốn có thể là các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài đáp ứng đủ các điều kiện về cho vay của tổ chức tín dụng. Về hình thức Theo thông lệ. hợp đồng tín dụng bao giờ cũng do tổ chức tín dụng soạn thảo và khách hàng, nếu không phải là những khách hàng lớn thì đều chấp nhận văn bản hợp đồng do tổ chức tín dụng soạn thảo. Về nội dung Nội dung của hợp đồng tín dụng được pháp luật về ngân hàng quy định khá chi tiết về những vấn đề cơ bản. Theo luật tổ chức tín dụng năm sửa đổi năm 2017 thì quy chế cho vay 1627, hợp đồng tín dụng phải có các nội dung cơ bản về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận. Từ quy định này, chúng ta có thể thấy nội dung của hợp đồng tín dụng khác biệt cơ bản với những hợp đồng kinh doanh thương mại hoặc hợp đồng dân sự thông thường, đặc biệt là những nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, bảo đảm tiền vay. Về biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng Biện pháp bảo đảm tiền vay hay còn gọi là tài sản bảo đảm là một yếu tố đặc thù luôn gắn liền với hợp đồng tín dụng. Hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động kinh doanh trên rủi ro, đặc biệt hoạt động cho vay có mức độ rủi ro mất vốn rất cao. Tài sản bảo đảm thường được các tổ chức tín dụng sử dụng như một giải pháp cuối cùng để hạn chế rủi ro mất vốn. Theo quy định của pháp luật, các tổ chức tín dụng được cho vay không có tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng đều quy định những điều kiện khá ngặt nghèo để một khách hàng có thể được vay vốn mà không phải có tài sản bảo đảm hay nói cách khác là vay tín chấp, còn đa phần đều là vay có tài sản bảo đảm. Biện pháp bảo đảm tiền vay được quy định trong hợp đồng tín dụng và đồng thời được thể hiện bằng một hợp đồng thế chấp, cầm cố tài sản, trừ những trường hợp cầm cố tài sản đặc thù như chứng từ có giá hay tiền gửi ngân hàng thì một số tổ chức tín dụng có thể sử dụng phương án chỉ cần quy định cụ thể trong hợp đồng tín dụng, kèm theo thủ tục đăng ký bảo đảm tiền vay. Xem thêm Dịch vụ pháp lý dành cho doanh nghiệp của Công ty Luật TNHH Everest Những điều cần biết khi thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam – Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, E-mail info
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI BẢN ÁN 82/2021/KDTM-ST NGÀY 19/11/2021 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG Ngày 19 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 73/2021/TLST- KDTM ngày 16/7/2021 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 347/2021/QĐXX-KDTM ngày 29 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 210/QĐST- KDTM ngày 08/11/2021 giữa các đương sựNguyên đơn Ngân hàng N Địa chỉ trụ sở Số 2 đường L, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà đại diện theo pháp luật Ông Tiết Văn Th- Tổng Giám diện ủy quyền Ông Đoàn Ngọc L- Giám đốc Agribank Chi nhánh Thăng Long Theo Quyết định ủy quyền số 2965/QĐ-NHNo-PC ngày 27/12/2019.Đại diện theo ủy quyền lại Bà Nguyễn Thị Thu H – Trưởng phòng Khách hàng Doanh nghiệp Agribank Chi nhánh Thăng Long Theo Giấy ủy quyền số 804/ ngày 22/4/2021. Có mặt Bị đơn Công ty Cổ phần T Có mặt Trụ sở Số 38 Phan Đình Phùng, phường Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà đại diện theo pháp luật Ông Nguyễn Mạnh Hùng- Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyềnBà Nguyễn Hồng L. HKTT Số 194, Tổ 8, phường Hoàng Văn Thụ, Hoàng Mai, Hà Nội. Bà Trần Thùy D. HKTT Xã H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Bà Nguyễn Thu Tr; HKTT 80 đường N, Hai Bà Trưng, Hà Giấy ủy quyền số 1611/2021/GUQ-TBH ngày 16/11/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanÔng Đinh Ngọc K, sinh năm 1959. có mặt Bà Đặng Thị A, sinh năm 1959. vắng mặt Bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1940. vắng mặt Anh Đinh Ngọc K, sinh năm 1991. vắng mặt Chị Vũ Thị N, sinh năm 1992. vắng mặt Anh Lê Hữu C, sinh năm 1984. vắng mặt Chị Đinh Hải Y, sinh năm 1984. vắng mặt Cháu Lê Khánh C, sinh năm 2010, Do bố mẹ là anh Chiến và chị Yến đại diện theo pháp luật. vắng mặt Cháu Lê Khánh M, sinh năm 2012, Do bố mẹ là anh Chiến và chị Yến đại diện theo pháp luật. vắng mặt Cùng địa chỉ số 61 phố L, phường L, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà DUNG VỤ ÁNTheo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 01 năm 2021 của nguyên đơn là Ngân hàng N và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N là bà Nguyễn Thị Thu Hằng trình bàyQuá trình cấp tín dụngCăn cứ Giấy đề nghị vay vốn ngày 23/5/2013 của Công ty CP Tkèm theo hồ sơ vay vốn, biên bản họp Hội đồng Quản trị của Công ty CP Tsố 08/2013/TBH- HĐQT ngày 15/4/2013 về việc vay vốn Agribank chi nhánh Thăng Long số tiền đồng và ông Đinh Ngọc K là người đại diện Công ty ký kết các hợp đồng liên quan đến giao dịch với Ngân hàng Agribank, Agribank chi nhánh Thăng Long phê duyệt hạn mức cho vay và đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 845/2013/HĐHM ngày 24/6/2013 với Công ty CP Tvới nội dungPhương thức cho vay Cho vay theo hạn mức tín dụng. Mức dư nợ cao nhất đích vay vốn Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh của Công ty CP Tổng Bách suất cho vay 11%/năm Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay;Thời hạn cho vay 12 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng; Trả lãi Trả lãi vào ngày 25 hàng hoạch trả nợ gốc Cuối pháp đảm bảo Thế chấp tài sản của bên thứ 3 là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 61 phố Lê Đại Hành số cũ 67 Vân Hồ 2 phường Lê Đại Hành, quận Hai Ba Trưng, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu của ông Đinh Ngọc K và vợ là bà Đặng Thị An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG805559, hồ sơ gốc số do UBND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/10/ đồng thế chấp số quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 14/10/2013 giữa Agribank Chi nhánh Thăng Long-Phòng Giao dịch số 7 Bên nhận thế chấp và ông Đinh Ngọc K và vợ là bà Đặng Thị An Bên thế chấp. Giá trị tài sản thế chấp đồng. Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 10107035554 ngày 22/10/2013 tại Văn phòng Đăng ký đất đai quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà vi phạm nghĩa vụTổng số tiền gốc, lãi trong, lãi quá hạn tạm tính đến ngày 19/11/2021 là đồng, cụ thể Gốc trong hạn quá hạn trình thực hiện Hợp đồng tín dụng số 845/2013/HĐHM ngày 24/6/2013, Công ty Tđã để phát sinh nợ quá hạn. Agribank Chi nhánh Thăng Long đã nhiều lần làm việc với Công ty Tyêu cầu trả nợ. Công ty cũng đã nhiều lần cam kết trả nợ nhưng cho đến nay vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hết cho Agribank theo các điều khoản của Hợp đồng tín dụng và cam kết tại các biên bản làm việc. Đồng thời với việc đôn đốc thu nợ, Agribank chi nhánh Thăng Long đã nhiều lần gửi Công văn, văn bản và thỏa thuận trong các biên bản làm việc yêu cầu bên thế chấp thực hiện trả nợ theo các Điều khoản tại Hợp đồng thế chấp số quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 14/10/2013 nhưng bên thế chấp cố tình không thực vấn đề Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ba Đình giải quyết gồmTòa án buộc Công ty Cổ phần Tphải thanh toán cho Ngân hàng Agribank- Chi nhánh Thăng Long toàn bộ số tiền gốc, lãi, lãi quá hạn. Tổng số tiền gốc, lãi, lãi quá hạn tạm tính đến 19/11/2021 là đồng, cụ thểGốc trong hạn đồng. Lãi quá hạn toàn bộ nợ lãi phát sinh của khoản nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 19/11/2021 đến khi tất toán khoản buộc nếu Công ty Cổ phầnTkhông thanh toán khoản nợ nêu trên cho Agribank Chi nhánh Thăng Long ngay sau khi Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng N thông qua Agribank chi nhánh Thăng Long có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 61 phố Lê Đại Hành số cũ 67 Vân Hồ 2 phường Lê Đại Hành, quận Hai Ba Trưng, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu của ông Đinh Ngọc K và vợ là bà Đặng Thị An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG805559, hồ sơ gốc số do UBND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/10/ Hợp đồng thế chấp ngày 14/10/2013, số công chứng Quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Vạn Xuân. Chứng nhận việc thế chấp ngày 22/10/2013 tại Văn phòng Đăng ký đất và nhà quận Hai Bà Trưng để thu hồi nợ và các khoản lãi phát sinh theo quy định của pháp đơn Công ty Cổ phần Tdo bà Trần Thùy Dung đại diện theo ủy quyền trình trình bàyNgày 15/4/2013, Hội đồng Quản trị Công ty T đương thời đã họp, thống nhất thông qua nghị quyết của HĐQT về “Quyết định đầu tư phương án kinh doanh và vay vốn tại Phòng Giao dịch số 7 –Chi nhánh Thăng Long- Ngân hàng N với số tiền là đồng. Đồng thời Hội đồng quản trị cũng cam kết cùng chịu trách nhiệm trước pháp luật về số tiền cấp hạn mức tín dụng này khi đến hạn mà Công ty không trả được nợ cho Agribank theo nội dung trong biên bản họp HĐQT số 08/2013/ 24/6/2013, Công ty Cổ phần Tđại diện theo pháp luật là ông Đinh Ngọc K đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 845/2013/HĐHM với Ngân hàng N với các nội dung như sauAgribank cho vay theo hạn mức tín dụng số tiền tiền cho vay cụ thể chi tiết sẽ được tính theo từng lần rút vốn theo từng giấy nhận lần nhận nợ do ông Đinh Ngọc K- Tổng giám đốc và ông Phạm Ngọc Dương- Phó tổng giám đốc Công ty ký nhận thành nhiều đích sử dụng tiền vay Bổ sung vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh sản xuất năm 2013-2014 của Công 14/10/2013, ông Đinh Ngọc K và vợ là bà Đặng Thị An đã đồng ý thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất tại địa chỉ số nhà 61 phố Lê Đại Hành số cũ 67 Vân Hồ 2, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu của mình được ghi nhận tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG805559, hồ sơ gốc số do UBND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/10/2006 theo Hợp đồng thế chấp số công chứng quyển số 10 TP/CC-SCC/HĐGD do công chứng viên văn phòng Công chứng Vạn Xuân chứng nhận ngày 14/10/2013 để đảm bảo các nghĩa vụ thanh toán với mức dư nợ tối đa đồng cho bên vay vốn là Công ty Tổng Bách tại, Công ty Tđang ra soát lại toàn bộ quá trình nhận nợ và thanh toán phần nợ gốc, lãi trong hạn và quá hạn như Agribank đã nêu trong Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 29/10/2021 tại Tòa án nhân dân quận Ba lãnh đạo mới của Công ty Ttiếp nhận quản lý Công ty Ttừ ngày 23/11/2020, nay đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật, chứng cứ theo các hồ sơ, tài liệu và ý chí giao dịch của hai bên để xét xử công có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Khanh trình bàyÔng nguyên là Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tổng Bách Hóa. Năm 2007 Ngân hàng yêu cầu phải có tài sản thế chấp mới cấp hạn mức tín dụng cho Công ty cổ phần Tổng Bách Hóa. Để có thể tồn tại được T phải có vốn để sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy lãnh đạo công ty đã họp bàn và thống nhất đề nghị các đồng chí lãnh đạo công ty Tmượn tài sản là nhà, đất, xe ô tô, sổ tiết kiệm để thế chấp vào ngân hàng để Tđược cấp hạn mức tín dụng vay vốn. Công ty sẽ trả phí cho mượn tài sản là 0,05%/1 thángvăn bản quy định số 128/ ngày 5/5/2007. Nhưng do khó khăn nên T chưa trả cho ai khoản phí đó, ông và vợ ông cho Công ty mượn tài sản để thế chấp cho khoản vay của Tổng bách hóa. Cụ thể, ông và vợ là bà Đặng Thị An có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 61 phố Lê Đại Hành số cũ 67 Vân Hồ 2 phường Lê Đại Hành, quận Hai Ba Trưng, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu của ông Đinh Ngọc K và vợ là bà Đặng Thị An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG805559, hồ sơ gốc số do UBND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/10/ được lãnh đạo cho mượn 6 quyển sổ đỏ nhà đất, 1 số xe ô tô, sổ tiết kiệm để thế chấp vào Ngân hàng làm hạn mức vay vốn. Tất cả đã được Tgiải quyết trả lại cho lãnh đạo công năm 2020 Tđã có biên bản làm việc cam kết trả hết nợ trước 31/12/2020 với số tiền gốc và lãi là đồng nhưng nay vẫn chưa trả ông yêu cầu T phải trả nợ cho Ngân hàng để gia đình ông được lấy tài sản nay, tài sản do gia đình ông quản lý sử dụng và những người đang sinh sống thường xuyên làÔng Đinh Ngọc K, sinh năm 1959. Bà Đặng Thị An, sinh năm Nguyễn Thị U, sinh năm 1940. Anh Đinh Ngọc Kh, sinh năm 1991. Chị Vũ Thị N, sinh năm Lê Hữu Ch, sinh năm 1984. Chị Đinh Hải Y, sinh năm Lê Khánh C, sinh năm 2010 Cháu Lê Khánh M, sinh năm khi thế chấp cho đến nay nhà đất vẫn nguyên trạng là nhà 04 tầng, 1 tum không sửa chữa, xây dựng phiên tòaNgân hàng trình bày Công ty Cổ phần T mới trả được số nợ gốc là đồng, Ngân hàng chưa thu khoản lãi nào kể từ ngày 05/7/ 17 tháng 12 năm 2020 Ngân hàng và Công ty Cổ phần Tcó ký biên bản làm việc, theo đó Công ty Cổ phần Tsẽ trả số nợ gốc và lãi là đồng cho Ngân hàng trước ngày 31/12/2020 và Ngân hàng sẽ giải chấp tài sản bảo đảm của bên thứ nhiên, Công ty Cổ phần Tkhông thực hiện theo biên bản làm việc đó nên ngày 04/01/2021 Ngân hàng đã có công văn số 02/ thông báo cho Công ty biết về việc biên bản làm việc ngày 17/12/2020 hết hiệu lực thi hành, yêu cầu Công ty phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng trước ngày 15/01/2021, nếu không Ngân hàng sẽ khởi kiện ra Tòa Công ty còn nợ gốc đồng và lãi tạm tính đến ngày 19/11/2021 làLãi trong hạn được tính từ ngày 05/7/2013 đồng;Lãi quá hạn tính từ ngày 06/11/2013 gốc và lãi chưa trả đồng. Đề nghị Tòa án buộc Công ty trả số nợ gốc và lãi này cho Ngân ty Cổ phần Tthừa nhận còn nợ gốc và lãi như Ngân hàng trình bày. Tuy nhiên đề nghị Ngân hàng xem xét để cho Công ty được trả số nợ gốc và lãi đồng theo như biên bản làm việc ngày 17/12/2020 và Công ty sẽ có phương án và lộ trình trả nợ cho Ngân hàng số tiền theo biên bản làm việc ngày 17/12/ Khanh trình bày Đề nghị Ngân hàng và Tòa án xem xét để Công ty trả nợ gốc và lãi là đồng theo biên bản làm việc ngày 17/12/2020 để Ngân hàng giải chấp tài sản cho gia đình diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình phát biểu quan điểmVề việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc giải quyết vụ án Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký kết, nội dung và hình thức đúng quy định của pháp luật. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo quy định pháp luật là có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền kê biên phát mại tài sản để thu hồi đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, Ngân hàng không phải chịu án phí.[1]. Về tố tụngNHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁNBà Nguyễn Thị U, bà Đặng Thị A, anh Đinh Ngọc Kh, chị Vũ Thị Nh, anh Lê Hữu Ch, chị Đinh Hải Y, cháu Lê Khánh C, sinh năm 2010 và cháu Lê Khánh M, sinh năm 2012, do bố mẹ là anh C và chị Y đại diện theo pháp luật đã được triệu tập phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nói trên.[2]. Về nội dung[ Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, nhận thấyNgày 24/6/2013, Ngân hàng N chi nhánh Thăng Long – Phòng Giao dịch số 7 sau đây gọi là Ngân hàng và Công ty Cổ phần Tsau đây gọi là Công ty ký Hợp đồng tín dụng số 845/2013/HĐHM, theo hạn mức tín dụng số tiền hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty Cổ phần Tnhiều ty đã trả được một phần nợ gốc, nay còn nợ Ngân hàng nợ gốc đồng và lãi theo quy hàng yêu cầu Công ty trả nợ tạm tính đến ngày 19 tháng 11 năm 2021, tổng số tiền đồng. Trong đóGốc trong hạn quá hạn phiên tòa, Công ty xác nhận còn nợ Ngân hàng số nợ gốc là đồng và số lãi theo như Ngân hàng trình bày nhưng đề nghị Ngân hàng xem xét đồng ý cho Công ty trả nợ theo biên bản làm việc ngày 17/12/2020, tuy nhiên Ngân hàng không đồng ý vì cho rằng biên bản làm việc đó Công ty đã vi phạm không thực hiện theo thỏa thuận đã được ghi trong biên bản nên nay Ngân hàng khởi kiện để nghị Tòa án giải quyết theo pháp thấy, Công ty không trả nợ cho Ngân hàng theo đúng thời hạn thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng là vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên, vi phạm Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu Công ty phải trả toàn bộ số nợ gốc và tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn tạm tính đến ngày 19/11/2021 là có cơ sở chấp ty phải tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo qui định tại hợp đồng tín dụng, kể từ ngày 19 tháng 11 năm 2021 cho đến ngày thanh toán xong khoản nợ gốc.[ Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàngTài sản đảm bảo cho khoản vay trên là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 61 phố Lê Đại Hành số cũ 67 Vân Hồ 2 phường Lê Đại Hành, quận Hai Ba Trưng, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu của ông Đinh Ngọc K và vợ là bà Đặng Thị An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 805559, hồ sơ gốc số do UBND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/10/ Hợp đồng thế chấp ngày 14/10/2013, số công chứng Quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Vạn Xuân. Chứng nhận việc thế chấp ngày 22/10/2013 tại Văn phòng Đăng ký đất và nhà quận Hai Bà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tài sản gắn liền với đất là nhà tường gạch mái ngói một liệu xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án thể hiện tài sản trên đất là nhà bê tông 04 tầng, 01 hàng bên nhận thế chấp và ông Khanh bên thế chấp cũng đều xác nhận tại thời điểm thế chấp thì tài sản trên đất là nhà bê tông 04 tầng, 01 tum thuộc quyền sở hữu của ông Khanh và vợ là bà An dùng để thế chấp cho Ngân thấy, hợp đồng thế chấp nói trên được các bên tự nguyện ký kết, hợp đồng được công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm là đúng quy định của pháp luật. Do đó, trong trường hợp Công ty Cổ phần Tkhông thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất là nhà bê tông 04 tầng, 01 tum nêu trên để thu hồi nợ là đúng quy định của pháp luật.[3]. Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.[4]. Về án phíCông ty Cổ phần Tphải chịu án phí dân sự sơ thẩm là hàng không phải chịu án phí, được nhận lại đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0067311 ngày 16/7/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình.[5]. Về quyền kháng cáoCác đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm các lẽ trên;QUYẾT ĐỊNHCăn cứ Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân cứ Điều 95 của Luật các tổ chức tín cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi cứ Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với Công ty Cổ phần Tvề việc tranh chấp hợp đồng tín Công ty Cổ phần Tphải trả nợ cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 19/11/2021 là đồng, trong đóGốc trong hạn quá hạn từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong Công ty Cổ phần Tcòn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ nhưng phải phù hợp với quy định của pháp Trường hợp Công ty Cổ phần Tkhông thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng N có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm sau đây để thu hồi nợQuyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nhà 04 tầng 01 tum tại số 61 phố Lê Đại Hành số cũ 67 Vân Hồ 2 phường Lê Đại Hành, quận Hai Ba Trưng, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu của ông Đinh Ngọc K và vợ là bà Đặng Thị An Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG805559, hồ sơ gốc số do UBND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/10/2006 cho ông Đinh Ngọc K và bà Đặng Thị An.Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên sẽ được thanh toán toàn bộ khoản nợ trong hợp đồng tín dụng nêu trên nếu dư Ngân hàng sẽ trả lại cho bên thế chấp, nếu thiếu thì bên vay tiếp tục trả cho Ngân hàng số tiền Về án phí Công ty Cổ phần Tphải chịu án phí sơ thẩm là hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam không phải chịu án phí, được nhận lại đồng tạm ứng án phí theo biên lai số lai số 0067311 ngày 16 /7 /2021 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân Về quyền kháng cáoCác đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm
bình luận bản án tranh chấp hợp đồng tín dụng